Chế Độ:  
     Đăng Nhập   02 Tháng Chín 2010      Tìm Kiếm  

 

 

 

Kham pha the gioi

 

 

 

Giỗ Tổ Hùng Vương: Ngày hội hướng về cội nguồn
Ngày 26-7-1999, Bộ Chính trị ra Nghị quyết về việc tổ chức các ngày lễ lớn của dân tộc trong năm 2000, trong đó có Giỗ Tổ Hùng Vương.


"Giỗ Tổ Hùng Vương đã trở thành biểu tượng của giá trị văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam, thể hiện sức mạnh và niềm tự hào dân tộc, củng cố khối đoàn kết, truyền thống uống nước nhớ nguồn và bản sắc độc đáo của nhân dân ta". Đó là nội dung tờ trình Thủ tướng Chính phủ của Bộ trưởng Văn hóa-Thông tin nhằm xúc tiến khẩn trương lễ hội Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2000 như một quốc lễ.

Sơn Tây vui nhất Hội Thầy

Vui thì vui thật, chẳng tày Hội He

Hội He là hội Đền Hùng có từ lâu đời của dân các làng quanh vùng Đất Tổ, mà tộc phả họ Hoàng ở khu vực Đền Hùng ghi rõ sự tích Làng Trẹo (nay là Triệu Phú) là làng Cả trông nom việc thờ cúng đức vua Tổ. Đã có tới 200 truyền thuyết liên quan thời đại các vua Hùng với các vị tổ như Kinh Dương Vương, An Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ... và các câu chuyện đã trở thành cổ tích ăn sâu vào tâm thức các thế hệ người Việt Nam: Sơn Tinh-Thủy Tinh, Thánh Gióng, Bánh Chưng-Bánh Giầy, sự tích Trầu Cau...

Khi Hai Bà Trưng phất cờ khởi nghĩa, diễn ca quốc sử đã mô tả lời thề:

Một xin rửa sạch mối thù

Hai xin đem lại nghiệp xưa Vua Hùng.

Đến thời Hồng Đức nhà Lê (cuối thế kỷ 15), triều đình mới sai soạn ngọc phả ghi rõ "Từ nhà Đinh, nhà Lê, nhà Lý, nhà Trần đến triều đại ta bây giờ là Hồng Đức Hậu Lê vẫn hương khói trong ngôi đền ở làng Trung Nghĩa (Đền Hùng). Những ruộng đất sưu thuế từ xưa để lại dùng vào việc cúng tế vẫn không thay đổi. Tại đây, nhân dân cả nước đều đến lễ bái để tưởng nhớ công ơn gây dựng nước nhà của các đấng thánh tổ ngày xưa" và giao cho dân làng Hy Cương và Vy Cương (tức làng Trung Nghĩa) làm "dân trưởng tạo lệ" chuyên lo việc thờ phụng và tổ chức hằng năm việc tế lễ cho bàn dân cả nước về dự. Có một số tài liệu cho rằng lễ hội cổ xưa được tổ chức vào 12.3 âm lịch. Sau này, kể từ sau việc dân các tỉnh Bắc Kỳ quyên góp hưng công trùng tu các đền Thượng, Lăng và Đền Giếng (từ 1917 đến 1922) thì mới chọn ngày 10.3 để đại diện triều đình đến tế lễ trước, sau đó mới đến lễ hội của làng xã. Cứ 5 năm một lần, đại diện triều đình thường là Tổng đốc tỉnh sở tại được nhà vua ủy quyền đứng ra chủ lễ. Ngoài việc cấp ruộng và miễn sưu thuế cho dân làng Trung Nghĩa, hằng năm nhà vua gửi về ba đấu gạo nếp thơm làm bánh hoặc xôi để cáo Tổ (đấu cũ tương đương với khoảng 6kg).

Trong năm hội chính, nét đặc sắc nhất trong lễ hội Đền Hùng là lễ rước kiệu của 40 làng quanh vùng Đất Tổ như các làng: Hạ Giáp, Dữu Lâu, Việt Trì, Tảo Sơn, Phú Sơn, Thạch Sơn, Mai Đình, Cao Mại, Sơn Vi.. mỗi làng rước ba cỗ kiệu (trầu cao, hương hoa, hương án và bánh chưng, bánh giầy,...) rồi tập trung ở chân núi để chấm giải.

Lễ tế ở Đền Thượng, chủ tế là quan đầu tỉnh đại diện nhà vua, phụ tế là các quan hàng tỉnh, huyện trong địa hạt tỉnh Phú Thọ. Hội xưa kéo dài từ mồng 7, 8 đến 16, 17 tháng 3 âm lịch.

Sau cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, lễ Giỗ Tổ đầu tiên sau ngày nước nhà độc lập được tổ chức trọng thể với sự có mặt của cụ Phó Chủ Tịch Huỳnh Thúc Kháng. Các cụ cao tuổi còn thuật lại rằng trong buổi lễ đó cụ Huỳnh dâng lên vua Tổ một tấm bản đồ Việt Nam và một thanh kiếm để cáo với Vua Hùng nước nhà đã độc lập nhưng đang còn bị họa xâm lăng.

Từ năm 1947 đến năm 1954, trong hoàn cảnh kháng chiến, lễ hội chỉ giới hạn trong các hoạt động tín ngưỡng của nhân dân địa phương.

Ngày 19-9-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi gặp gỡ các chiến sĩ quân đội chuẩn bị về tiếp quản thủ đô, tại Đền Hùng, Người đã căn dặn: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước"

Ngày 19.8.1962, Bác Hồ thăm lại Đền Hùng, Người đã nhắc nhở các cơ quan lãnh đạo địa phương: Phải chú ý trồng thảm hoa, cây cối để Đền Hùng ngày càng trang nghiêm và đẹp đẽ, thành một công viên lịch sử để cho con cháu sau này đến tham quan.

Giỗ Tổ năm 1956, Bộ Văn hóa đứng ra tổ chức lễ hội, nhưng từ đó do quan niệm cho lễ hội là phục cổ, phong kiến... nên thôi không tổ chức. Người hành hương vẫn đông nhưng lễ rất đơn giản, nhất là trong những năm chiến tranh phá hoại bằng không quân của đế quốc Mỹ.

Năm 1963, Bộ Văn hóa đã xếp hạng Đền Hùng là di tích lịch sử quốc gia. Thời gian đó, Tổng Bí thư Lê Duẩn khi thăm Đền Hùng, căn dặn: "Là người Việt Nam, ai mà không nhớ đến tổ tiên. Đồng bào khắp mọi miền rất thiết tha về thăm Đấ Tổ Hùng Vương... Chúng ta phải xây dựng Đền Hùng để từ Đền Hùng nhìn khắp cả nước và cả nước nhìn về Đền Hùng". Tổng Bí thư cũng nói đến ý tưởng xây dựng tại đây một tháp cao để tưởng niệm các Vua Hùng.

Tháng 8-1978, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến thăm Đất Tổ cũng nhấn mạnh rằng: "Đây là khu di tích lịch sử quý báu nhất của nước ta và dân tộc Việt Nam ta". Các vị lãnh đạo cao nhất của Đảng, Quốc hội và Nhà nước đều đã có dịp viếng thăm Đền Hùng.

Từ năm 1987, Chính phủ đã quyết định xếp khu rừng quanh Đền Hùng là rừng cấm quốc gia để bảo vệ cảnh quan môi trường thiên nhiên. Cũng năm đó, Bộ Văn hóa-Thông tin cùng tỉnh Vĩnh Phú tổ chức một cuộc hội thảo đầu tiên để bàn về các quy thức lễ hội Đền Hùng và kể từ đó, các năm chẵn (1990, 1995), việc Giỗ Tổ do Bộ Văn hóa-Thông tin thay mặt Nhà nước cùng tỉnh sở tại (trước là Vĩnh Phú, nay là Phú Thọ) đồng đứng ra tổ chức.

Ngày 8-2-1994, Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định quy hoạch tổng thể Khu di tích Đền Hùng làm cơ sở pháp lý để Nhà nước đầu tư tôn tạo khu di tích. Một bảo tàng về thời đại Hùng Vương được xây dựng trong khuôn viên Khu di tích (1993).

Với nghị quyết ngày 26-7-1999 của Bộ Chính trị, kể từ năm 2000, Giỗ Tổ Hùng Vương sẽ được coi như là một ngày lễ chính thức (quốc lễ) và giao cho Bộ Văn hóa-Thông tin xây dựng những dự án cho Giỗ Tổ Hùng Vương năm 2000 cũng như lễ hội các năm sau này.

Những thống kê của cơ quan quản lý di tích Đền Hùng cho biết, nếu như những năm 60, mỗi mùa lễ hội có chừng từ bảy đến tám vạn lượt người hành hương thì năm 1978 đã lên tới 20 vạn lượt người; từ 1981 đến 1985 con số trung bình là từ 20 đến 25 vạn lượt người; từ năm 1986 đến 1990, con số trung bình hằng năm là từ 30 đến 40 vạn; từ 1991 đến 1994 là từ 30 đến 45 vạn. Riêng năm 1995 có tới 60 vạn... Dự kiến con số người đến viếng sẽ ngày một tăng, đặc biệt là các năm chẵn.

Cũng theo dự án của Bộ Văn hóa-Thông tin thì để đáp ứng nhu cầu hướng về Đất Tổ của nhân dân cả nước, ngoài các đền thờ Hùng Vương có từ lâu đời rải rác tại các làng xã vùng đồng bằng và trung du Bắc Bộ cho tới Bắc Trung Bộ, cũng như nhiều địa phương trong cả nước, nay sẽ tạo điều kiện để xây dựng với quy mô phù hợp, trang trọng nhưng tiết kiệm tại những địa phương chưa có. Riêng thành phố Hồ Chí Minh, tại khuôn viên Làng văn hóa các dân tộc, vào dịp Giỗ Tổ năm 2000 sẽ chính thức khởi công một công trình Tưởng niệm các Vua Hùng với quy mô tương xứng với tâm thức của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ 20, tưởng vọng về Đất Tổ và các Vua Hùng đã có công dựng nước.

Theo đề nghệ của Bộ Văn hóa-Thông tin, nếu được Quốc hội và Chính phủ chuẩn y thì ngày Giổ Tổ Hùng Vương hằng năm sẽ trở thành "Ngày Di sản văn hóa Việt Nam". Trong ngày ấy mọi người dân Việt sẽ hướng về Đất Tổ, tưởng nhớ đến các Vua Hùng cùng các thế hệ những người có công đối với sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong ngày ấy, mọi người chăm lo sang sửa từ góc bàn thờ tổ tiên trong nhà đến những di tích lịch sử văn hóa, thăm các bảo tàng, hưởng thụ các loại hình văn hóa nghệ thuật truyền thống.

Một mùa lễ hội sắp tới, cũng như thường niên:

Dù ai đi ngược về xuôi

Nhớ ngày Giỗ Tổ mồng Mười tháng Ba

Nhưng dịp Giỗ Tổ năm nay sẽ được ghi vào trong pho biên niên sử nước nhà như khởi đầu cho một tầm nhìn mới của dân tộc Việt Nam trước ngưỡng thềm một thế kỷ mới, một thiên niên kỷ mới, một tầm nhìn hướng tới một tương lai công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập với thế giới nhưng vẫn bám chắc vào cội rễ của nền văn hiến dân tộc, mà thời đại các Vua Hùng là một biểu tượng của sự vững chãi.

(Source: Dương Trung Quốc -Tổng Thư ký Hội khoa học lịch sử Việt Nam. )
Read on >>
  
  
  
  
  

Read on >>
  
  
  
  
  
 Bộ thiết bị ghép nối

  
Tin quan tâm

 

Kenh song nuoc